Nhạc Thính Pḥng
(Theo GD - TĐ chủ nhật số 44/1998)
Ư nghĩa của ngôn từ "âm nhạc thính pḥng" (ÂNTP) có nguồn
gốc từ ngôn ngữ Latinh (camera) - có nghĩa là nhạc để biểu diễn trong phạm
vi không gian nhỏ (như pḥng ḥa nhạc) để phân biệt với nhạc giao hưởng,
nhạc sân khấu (thí dụ opera, oratoria, cantata) dành cho các gian ḥa nhạc
lớn. Thuật ngữ này được h́nh thành từ thời Trung cổ nhưng măi đến cuối thời
đại Phục Hưng mới được khẳng định rơ ư nghĩa mà hiện nay chúng ta vẫn hiểu
về nó. Trước kia, ÂNTP theo nguyên tắc được tŕnh diễn ở các buổi ḥa nhạc
trong phạm vi gia đ́nh, chính từ đây đă h́nh thành nên thành phần các nhạc
công của loại h́nh nghệ thuật này: từ một độc tấu (hay được gọi là solist)
cho đến vài ba nhạc công đủ để biểu diễn trong phạm vi nhỏ và liên kết với
nhau thành nhóm nhạc thính pḥng. Khi sáng tác cho ÂNTP, các nhạc sĩ thường
chú trọng đến từng phương thức biểu cảm của từng cấu trúc âm nhạc phù hợp
với từng loại nhóm cụ thể. Đặc tính của ÂNTP biểu hiện ở sự cân bằng giữa
các giọng nhạc (khác biệt với các tác phẩm trong đó phân biệt rơ bè chính,
bè đệm) và tính chất cô đọng, tinh tế trong từng ngữ điệu, giai điệu, nhịp
điệu và phương thức biểu cảm. Vai tṛ vô cùng quan trọng ở đây là sự phát
triển của các "chủ đề âm nhạc" mang giàu h́nh tượng nghệ thuật, ÂNTP có ưu
thế đặc biệt biệt về khả năng biểu hiện những cảm xúc trữ t́nh với tất cả
các mặt nhạy cảm và tinh tế nhất của tâm hồn con người.
Giữa thế kỷ XVI, h́nh thành rơ sự phân biệt giữa nhạc nhà thờ và nhạc
thính pḥng trong các thể loại nhạc dành cho giọng hát. Một trong những tác
phẩm đầu tiên tiêu biểu nhất của ÂNTP phải kể đến "L'antica musica ridotta
alla moderna" của Nicolo Vitrentino (1555). Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ
XVIII, ÂNTP bắt đầu phát triển mạnh ở các loại h́nh âm nhạc dành cho nhạc cụ
hay c̣n gọi là khí nhạc. Ơở những giai đoạn đầu tiên này giữa nhạc cho giọng
hát và khí nhạc hầu như không phân biệt về phong các nghệ thuật. Cho đến
giữa thế kỷ XVIII, sự phân biệt giữa chúng mới được thể hiện rơ nét đúng như
lời nhận định của nhà âm nhạc học trứ danh Kvanz "ÂNTP đ̣i hỏi sự sống động
và tự do trong ư tưởng âm nhạc hơn âm nhạc nhà thờ". Thể loại cao nhất của
ÂNTP dành cho khí nhạc thời kỳ này là tổ khúc sonate (sonata da camera) có
nguồn gốc từ tổ khúc vũ điệu. Nửa sau thế kỷ XVIII cùng với tên tuổi các
thiên tài Hayđơn, Mozart, Betthoven đă h́nh thành các thể loại ÂNTP cổ điển
- độc tấu, song tấu, tam tấu, tứ tấu, ngũ tấu..v...v.. trong đó ư nghĩa đặc
biệt quan trọng là các nhóm dành cho các đàn dây (violông, viola, viôlôngxen).
Chính bởi v́ ở các thể loại này hội tủ mọi điều kiện để có thể diễn tả cảm
xúc, h́nh tượng nghệ thuật một cách phong phú nên chúng đă thu hút nhiều
nhạc sĩ thiên tài từ cổ điển cho đến hiện đại, ngoài các nhạc sĩ đă kể trên
c̣n có Bramhs, Dvozak, Smetana, Grieg, Frank, Borodin, Rachmaninov (thế kỷ
XIX), Debussy, Ravel, Reger, Bartok, Prokofive, Soxtakovich.v.v.v (thế kỷ
XX).
Quá tŕnh phát triển của phong cách ÂNTP đă trải qua nhiều biến đổi trong
đó đặc biệt phải kể đến mối liên quan tương tác giữa ÂNTP và âm nhạc giao
hưởng. Từ đó đă nảy sinh ra các tác phẩm ÂNTP mang ảnh hưởng của nhạc giao
hưởng (như sonate dành cho violông - "Kreisler" của Betthoven, sonate dành
cho violông của Frank) và ngược lại - âm nhạc giao hưởng của ÂNTP (như giao
hưởng số 14 của Soxtakovich). Chính v́ vậy đă xuất hiện khái niệm âm nhạc
mới - "Dàn nhạc thính pḥng" và "Giao hưởng thính pḥng" để chỉ những tác
phẩm giao hưởng dành cho các dàn nhạc nhỏ với số lượng nhạc cụ hạn chế. Vai
tṛ vô cùng quan trọng trong ÂNTP phải kể đến các tiểu phẩm dành cho các
loại nhạc cụ trong đó nổi bật nhất là các tác phẩm dành cho dàn pianô bao
gồm nhiều thể loại khác nhau: valse, nocturne, prelude.v.v.. của Schubert,
Schuman, Sopanh, Skryabin, Rachmaninov, Prokofie.v.v.. Tuy ḍng nhạc hàn lâm
du nhạc vào nước ta chưa được lâu nhưng các nhạc sĩ Việt Nam cũng đă sáng
tác nhiều bản nhạc thính pḥng ngay từ những năm kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ trong đó nổi bật phải kể đến các tác phẩm của Hoàng Việt, Đỗ Nhuận,
Nguyễn Đ́nh Tấn..v..v... góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của văn
hóa dân tộc.
(Theo GD - TĐ chủ nhật số 44/1998)
|
 |
 |
 |

T́m hiểu thêm về Nhạc Vàng Việt Nam qua cái nh́n của dân Tây !


Nhạc Thính Pḥng nghe nó có vẻ quư sờ tộc bạn công nhận không?


H́nh như nhạc sến bị búa ŕu dư luận một cách không công bằng. Tại sao lại
thế?


Loại băng tốt nhất để convert sang digital là băng cối AKAI. Nếu không có băng
cối th́ phải dùng các loại C-90 thường.


Tại sao kỹ thuật số hiện đại lại
làm cho nhạc sản xuất sau này nghe như pḥ?

|